Lễ hội văn hóa

Trò trám - lễ hội dân gian độc đáo

Tứ xã là một làng cổ thuộc huyện lâm thao tỉnh phú thọ. Xưa kia, làng có tên là kẻ gáp – là nơi gặp gỡ, giao lưu giữa miền núi và đồng bằng, là nơi hình thành và bảo lưu nhiều lễ hội mang đậm tính dân gian cổ truyền tiêu biểu của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước thời kỳ hùng vương dựng nước. Một trong những lễ hội mang đậm tính chất phồn thực ở tứ xã đó là lễ hội trò trám.
Trò trám là tên gọi phản ánh đặc điểm của trò diễn được tổ chức ở xóm trám (trước kia, tứ xã là vùng trồng rất nhiều cây trám). Lễ hội trò trám là một trong những nét sinh hoạt dân gian đặc sắc của vùng trung du đất tổ gồm có 2 phần chính: phần lễ: cầu mong cho mùa màng tốt tươi thể hiện ở lễ thờ sinh thực khí (lễ mật nửa đêm 11/giêng), và rước lúa thần sáng 12/giêng hàng năm. Phần trình nghề của “tứ dân” mô tả các nghề nghiệp trong cuộc sống đời thường của người dân xưa: sĩ – nông – công – thương.

                                  

Qua trò trám sẽ thấy cả khát vọng, nét sinh hoạt buổi hoang sơ của cư dân việt cổ ven sông hồng. Dù cư dân tú xã đã có nhiều thay đổi cùng lịch sử nhưng trò trám vẫn là một trong những lễ hội dân gian cổ xưa nhất còn lưu truyền đến ngày nay. Tứ xã có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng: gò mun, đồng đậu con, gót rẽ…những cư dân ở đây đã có từ thời đại các vua hùng, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, con người vẫn sống liên tục trên một vùng đất. Tứ xã hiện nay gồm: 32 xóm. Riêng xóm trám hay còn gọi là xóm kiến thiết là một xóm nhỏ ở khu giữa xã. Nghe các cụ già kể lại, nơi đây ngày xưa là rừng cây trong đó có nhiều cây trám theo tiếng hán gọi là “cổ lãm” người dân ở “cổ lãm” xưa là những người dân nghèo từ những vùng quanh đó, chủ yếu ở khu mả giang, gò cây sung, gò gai cách tứ xã 2km về phía đông nam và nhiều người ở nơi khác tới. Cuộc sống chủ yếu làm ruộng và đánh cá, nên tên phường trám có cũng là do cách gọi của phường ngư dân (vùng này có tục đánh cá láng thờ làm lễ vào 13 tháng chạp – thể hiện một nghề sống chính của địa phương – còn có người cho rằng tên phường là liên quan đến phường hát vì trò trám cổ hát xướng). Người dân “cổ lãm” nghèo nhưng rất đùm bọc đoàn kết, tương thân tương ái, nên đã có câu tục ngữ: “chết chôn đất nhà gia, sống làm nhà xóm trám”, đất nhà gia cao không sợ bị ngập lụt, còn về xóm trám ở sẽ được thương yêu đùm bọc. Các cụ nói rằng sự tương thân tương ái thể hiện ở chỗ nhà nào sắm dụng cụ lao động như cày cuốc, trong xóm nhiều nhà nghèo cứ đến mượn, quanh năm đông người mượn nên chóng hỏng, người này sắm hỏng lại đến người khác sắm nên vẫn có câu “đồ như đồ cổ lãm” ý nói hỏng hóc chẳng ra gì.

                                  

Xóm trám chia làm 2 khu hay 2 ngõ hay 2 giáp. Tương truyền người lập ra xóm trám là ông ngô quang điện và con gái là ngô thị thanh hàng năm làm ra hội trò để khuyến khích lao động, và vận động thêm người lao động về xóm. Xóm trám có một điếm lá 3 gian (nay lợp ngói) và một miếu nhỏ lợp lá (nay không còn). Miếu thờ một nữ thấn có tên thường gọi là “bà dụ đị” cái tên mang ý nghĩa phồn thực. Trên bàn thờ trong miếu xưa có 2 biểu tượng nam tính và nữ tính hình chày và mu rùa bằng gỗ, dân gọi là nõ nường, miếu trám là nơi diễn trò nên còn gọi là miếu trò, cũng là nơi thờ bản thổ nữ thần ngô thị thanh. Điếm trám là nơi tập trung già trẻ, nơi sinh hoạt chung của cả xóm. Sân miếu trám có ban thờ, có nồi hương, gặp ngày cầu, ngày tết dân phường đem lễ vật ra cúng bái cầu may. Sân miếu trám là sân khấu chính của trò trám. Trò trám là trò trình nghề dân gian tứ dân: sĩ – nông – công – thương. Các nhân vật trong trò trình nghề này chủ yếu là những nhân vật ở nông thôn trong đó nổi bật các vai thợ cầy, thợ cấy, thợ mộc…trò trám vừa có nghi lễ phồn thực vừa mang tính hài, có diễn xuất tho sơ, gần với hình thức đào diễn dân gian.

Cuộc đời vất vả sớm hôm

Đi xem trò trám đủ ôm miệng cười


Trò trám gồm 2 nội dung: phần lễ cầu và ra trò tứ dân. Nội dung trò trám tiến hành các bước:

Lễ lấy giờ: theo một số lời kể lại của các cụ xóm trám, lễ lấy giờ diễn ra vào nửa đêm ngày 11 tháng giêng. Dân xóm trước đó đã cử 1 cụ cao tuổi, gia đình sạch sẽ thuộc người xóm trám hoặc ông từ của miếu trò làm chủ lễ, gần nửa đêm ông dẫn một số thanh niên từ 5-10 người mang trống, chiêng ra miếu để lấy giờ, đánh hiệu mốc thời gian báo hiệu ngày mới.

Theo một số cụ và những tư liệu đã nghiên cưú, lễ lấy giờ này có liên quan đến tín ngưỡng thờ phồn thực nông nghiệp, còn gọi là “lễ mật”. Khoảng 10h đêm ngày 11 tháng giêng, ông chủ tế tập hợp từ 5-10 người ở điếm trám rồi cùng nhau khiêng trống, khiêng chiêng sang miếu trò. Tới miếu mọi người ngồi chờ đợi, khi nghe gà gáy quanh làng thì biết là nửa đêm giờ tý chủ tế thắp hương khấn. Sau đó lễ mật bắt đầu: trong miếu chỉ còn ông chủ tế và 1 đôi nam nữ thanh niên. Chủ tế đưa cho trai một chiếc dùi hình dương tính, trao cho nữ một chiếc mu rùa hình âm tính. Đôi trai gái sau câu xướng của chủ tế “linh tinh tình phục” phải dướn người lên, giơ cao dùi gỗ vào mui rùa, miệng hát rồi chọc nhanh vào nhau cho khớp. Nghi lễ này diễn ra 3 lần đâm đều trúng thì năm đó làm ăn may mắn. Sau đó chủ tế dẫn đôi trai gái chạy quanh miếu 3 lần khua chiêng gõ trống ầm ĩ để xua tan tà ma, rồi mọi người rước nồi hương về điếm trám. Nghe tiếng gà gáy quanh xóm lần thứ nhất thì lúc đó là giờ tý chấm hết thời gian ngày 11, bước sang ngày 12. Ông chủ tế và mọi người đứng dậy mang chiêng trống chạy xung quanh miếu 3 vòng, vừa chạy vừa khua chiêng đánh trống reo hò ầm ĩ để xua đuổi tà ma quỷ quái. Sau đó về điếm trám hát ghẹo, hát ví buổi ra trò hôm sau.

Lễ hội rước lúa thần: ông chủ tế được bầu là người cao niên, đông con cháu, nhà quang, có danh vọng chức sắc. Từ vụ mùa năm trước ông chủ tế phải cất giữ cẩn thận một khóm lúa tốt, bông dài hột mẩy, đến gần tết lựa chọn thêm một ngọn mía, cả hai thứ cắm vào một cái bình. Khoảng 8-9h sáng ngày 12 tháng giêng lễ  rước lúa thần được tổ chức nhưng từ chiều tối hôm trước bát hương được rước từ miếu ra điếm trám cúng. Sáng 12 tháng giêng là tế đốn, khi tế đốn là ngôi thứ phân bậc tại điếm, tục lệ chia trác nặng nề, ăn uống linh đình. Đám rước bông lúa được diễn qua những cánh đồng thôn xóm đi theo con đường bờ hồ, gò vườn cũ, bờ đầm về miếu trò. Lộ trình đường đi của rước lúa thần: từ điếm trám sau lễ đốn, qua hồ phường trám, vườn cũ, về miếu trò. Trong khi rước ông chủ tế đội mũ cánh chuồn bằng giấy nện bọc the có thêu chỉ vàng, chỉ bạc mặc áo xanh, 2 tay ôm bình đựng lúa, trên đầu có lọng xanh che, phía trước có cờ, trống khẩu, đoàn bát âm, đằng sau 11 cụ già và dân chúng. Nhac theo điệu lưu thủy, thỉnh thoảng nổi lên từng hồi: “uốc hu hê” bày tỏ niềm vui của bà con. Đám rước về đến miếu trò, một hồi trống gióng lên đón mừng, ông chủ tế lập tức đắt bông lúa lên bàn thờ rồi nổi hiệu trống chầu gọi trò 3 hồi 9 tiếng và chiêng ngân vang khai mạc cho hội diễn trình nghề của tứ dân.

Ra trò tứ dân: cả phường trám chia làm 2 mảnh: mảnh trên và mảnh dưới, cả hai mảnh đều làm trò nhưng trách nhiệm chính cho mỗi năm là mảnh đăng cai, năm nay mảnh này, sang năm mảnh khác đăng cai. Mảnh được đăng cai cử ra một số thanh niên nam nữ, trung lão, trung niên ở bất cứ ngành giới nào, ngôi thứ nào miễn là dân phường trám và có năng khiếu đối đáp, nghệ thuật. Vì vậy hàng năm số người diễn gần như chuyên nghiệp, song vẫn có thể thay và bổ sung người mới. Những người ra trò được tập hợp tại sân nhà ông trùm trước một ngày để tập dượt, thuộc vai chuẩn bị chu đáo cho ngày hôm sau. Khi nghe thấy tiếng trống bảo mở màn trò, đám diễn trò, đi từ nhà ông trùm vòng vèo qua đường thôn xóm trám ra miếu trò. Sân khấu diễn trò diễn ở ngoài trời từ cổng nhà ông trùm tới sân miếu trò.

nguồn: lehoitrotram.com

 

Các tin liên quan